DẠY CON TỰ KỶ TUỔI DẠY THÌ – PHẦN 2

    31/08/2015

Tôi thường xuyên theo dõi và biết rất rõ khả năng giao tiếp xã hội của con mình. Suốt những năm từ mẫu giáo cho đến lớp 5 ở một trường tiểu học trong thành phố San Jose, Bắc California, tôi biết nó không có bạn, chỉ thích sinh hoạt một mình vào giờ chơi, giờ ăn ở trường. Và về nhà, ngoài giờ làm bài tập, đọc sách do tôi hướng dẫn, nó chỉ biết đến iPad hoặc những trò chơi điện tử trên iPhone cũ rích của tôi. Rồi, mỗi lần nhìn sự lẻ loi, sống cô lập của con tôi, lắm lúc tôi đâm ra mặc cảm tội lỗi vì mình chẳng biết cách dạy con hay tạo nhiều cơ hội cho con được hòa nhập có ý nghĩa hơn trong đời sống hằng ngày.

Còn vợ tôi, cho dù con đã lớn, vẫn chưa bỏ cái tật từng đêm ôm con vào lòng thủ thỉ, thủ tha: “Cái của nợ ni ngày mỗi lớn thì chân tay ngày mỗi dài thượt, chim … vỗ cánh có khi hơn người lớn. Vậy mà, cái óc nhỏ như trái nho. Lớn lên sẽ khổ trăm bề. Tội quá con ơi!”

Tôi nhớ, ngày xưa mới sang đây và đi học lại mấy lớp tâm lý vở lòng, các giảng viên đều nói … trẻ em sống cách biệt và không giao tiếp xã hội thì khi lớn lên sẽ khó tạo cho mình những thú vui, sở thích lành mạnh, khó tìm kiếm hoặc bảo vệ việc làm, nhất là rất dễ sinh bệnh trầm cảm hoặc những chứng rối loạn tâm thần khác. Điều nầy khiến tôi rất lo sợ mỗi khi nhìn thằng con không hứng thú tiếp chuyện hoặc gần gũi với một ai, ngoại trừ những người thân trong gia đình. Phải nói, làm cha, làm mẹ ai mà không muốn con mình có nhiều bạn tốt, học được những điều hay, biết đối xử tử tế và tôn trọng mọi người?

Năm vừa qua, tôi có đến thăm con ở trường vào giờ sinh hoạt tập thể. Đứng cạnh tôi là 2 chuyên viên Mỹ gốc Việt mới ra trường, có bằng cao học về ngành tâm lý và giáo dục đặc biệt. Họ và tôi đang quan sát cậu ấy để cùng nhau soạn thảo bản kế hoạch chuyển tiếp (transitional plan) cho niên học sắp đến ở trường cấp 2. Tôi mở đầu câu chuyện, hỏi họ một câu hết sức thành thật:

“Các cô ơi, chẳng đứa trẻ nào muốn kết bạn với con tôi. Ở sân chơi, nó lủi thủi một mình trong khi các bạn nó đứa thì đá banh, đứa nhảy dây, đứa chơi rượt bắt ... Vậy, các cô có cách nào giúp cho con tôi biết cách nhóm bạn và hòa đồng tập thể với các trẻ cùng lứa tuổi được không?”

Cô đeo kính đen gọng lớn, có đầu tóc nhuộm vàng khè, trả lời bằng tiếng Việt không dấu và trọ trẹ: “Toi xin loi ong, toi khong … hieu Vietnamese. Tieng Anh thoi, ok with you?”

Kế đến, cô tiếp lời bằng tiếng Anh nhanh như điện xẹt của thế hệ 9x, vốn sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ: “Look, your boy seems happy to play by himself. Boys and girls at this age need time alone to … de-stress. I think we shouldn’t try to force him into socially interacting with the others if he doesn’t want to.”

Tạm dịch: “Nhìn đi, con trai của ông có vẻ rất hạnh phúc khi chơi một mình? Trẻ con tuổi nầy cần thời gian sinh hoạt lẻ loi để ... xả áp lực. Tôi nghĩ mình không nên buộc bạn ấy phải giao tiếp xã hội với những trẻ khác nếu bạn ấy không thích.”

Nghe xong, tự dưng tôi mất bình tỉnh, nói chẳng biết lựa lời: “As a parent, with all due respects, I strongly disagree with you. Kids of any ages who have difficulties interacting need support from school. I am totally … shocked, and extremely disappointed about your irresponsible statements regarding children with disabilities."

Tạm dịch: “Là phụ huynh, tôi nhất định không đồng ý với các cô. Trẻ bất luận ở độ tuổi nào, nếu có khó khăn về vấn đề giao tiếp thì phải cần được sự hỗ trợ từ phía nhà trường. Tôi hoàn toàn … bị sốc và vô cùng thất vọng về lời nói vô trách nhiệm đối với trẻ bị khuyết tật của các cô. “

Thế là hết! Họ hè nhau bỏ đi, chẳng thèm chào tạm biệt. Ôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Tôi quên mất nguyên tắc “ngọt mật chết ruồi” và biết mình quá nặng lời thì đã muộn. Quen thói nói mích lòng. Chừa không phải dễ. Khẩu nghiệp!

Vừa quay lưng ra về, định bụng sẽ lên gặp các thầy tôi ở hội đoàn X và mượn tạm vài cuốn sách dạy con tự kỷ ở tuổi mơ về nhà đọc thì gặp ngay mấy đứa học cùng lớp với con tôi. Đây là nhóm “điệp viên” do tôi và một số phụ huynh cài vào trường để theo dõi, báo cáo những diễn biến về hành vi, sinh hoạt và học tập của các em tự kỷ ở nhà trường. Một số các điệp viên nhí nầy bị khuyết tật thể hình hoặc những khiếm khuyết về sức khỏe như suyễn và động kinh, nhưng rất thông minh, biết bênh vực nhau và rất đáng được tin cậy. Phần thưởng của các em thường là những đồ chơi, thẻ mua quà (gift cards), hoặc những vé xem phim cuối tuần do vài phụ huynh có con em tự kỷ bí mật góp tặng, và đương nhiên chẳng có gì sai trái về mặt luật pháp.

Tôi gặp điệp viên 007, con trai của người bạn hiện theo học chương trình giáo dục đặc biệt vì chứng rối loạn tăng động thiếu chú ý. Thấy tôi, 007 nhả ngay bụm kẹo cao su ra lòng tay, mắt nhìn tôi, miệng báo cáo: “Good morning. Uncle ơi, sáng nay bạn ấy (con tôi) khóc òa trong lớp học. Cô giáo la rầy rất đúng vì bạn ấy không muốn làm bài tập theo nhóm, chỉ thích làm theo ý mình mà thôi. Con xin lỗi không làm bạn với con uncle được nữa. Chơi với bạn ấy thì tụi con sẽ chẳng có ai muốn chơi chung. Các bạn nói con uncle bị bệnh tự kỷ. Chơi chung thì trước sau gì tụi con cũng sẽ lây bệnh rồi chết, đúng vậy không, uncle?”

Tôi im lặng. Thay vì trả lời yes hay no cho câu hỏi ngây thơ của 007, tôi vén tay áo nhìn đồng hồ và giục thằng bé: “Con vào lớp học đi. Gần hết giờ chơi 15 phút rồi. Để mai uncle nhờ ba má con giải thích chuyện nầy cho con hiểu. Thanks.”

Bước ra khỏi cổng trường, lúc ấy tôi chợt hiểu thêm một điều … thì ra, ở chặng cuối bậc tiểu học, trẻ con bắt đầu có những nhận định về đứa bạn tự kỷ và không muốn có sự giao tiếp thân thiện vì áp lực của những nhóm bạn khác ở trường, và cho dù mình người lớn có khuyên giải hay ép buộc chúng sinh hoạt chung thì cũng chẳng có lợi ích gì. Phải tìm cách khác, vì các điệp viên nhí đã hết đát, chẳng còn hồn nhiên như xưa nữa.

Vậy là, tôi suy nghĩ và tìm cách email các chuyên gia tự kỷ ở California và ở những trường đại học lớn trong các tiểu bang khác về những trở ngại trong vấn đề kết bạn, nhóm bạn của trẻ tự kỷ. Ba ngày sau, tôi nhận được vài chục điện thư phản hồi. Các chuyên gia nói họ rất vui khi biết tôi là phụ huynh rất quan tâm về tự kỷ, và họ muốn giúp đỡ tôi. Họ kể …

Theo kinh nghiệm nhiều năm trong nghề, họ nhận thấy trẻ và các thanh thiếu niên tự kỷ, nhất là những cá nhân bị hội chứng Asperger, còn gọi là tự kỷ thuộc dạng cao (high – functioning autism), đều mong muốn được kết bạn và có người yêu. Tuy nhiên, những khiếm khuyết nghiêm trọng về ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội (pragmatics) chính là nguyên nhân khiến các bạn ấy chưa hoặc không thể đạt được ý nguyện, bởi vì các cô cậu ấy –

• không biết làm thế nào để mở đầu câu chuyện (not knowing to start a conversation),
• không biết dùng âm giọng, điệu bộ, hoặc giao tiếp bằng mắt khi trò chuyện (not using the right intonation, voice level, body posture, gesture, eye contact during conversation),
• không biết chọn đề tài thích hợp (inappropriate topics),
• không biết lắng nghe, chỉ thích nói nhiều về chủ đề mình ưu chuộng khiến người khác phải bực mình (not listening enough and talking too much about a particular topic that may not be of interest to another person).

Các chuyên gia còn hướng dẫn tôi cách áp dụng 5 nguyên tắc căn bản để giúp con trai tự kỷ kết bạn và duy trì tình bạn (5 basic rules for making and keeping friends) như sau:

1) Dạy con tự kỷ cách tỏ lòng biết ơn người khác (learn how to show appreciation)

Nhiều người từng quen biết các trẻ và thanh thiếu niên tự kỷ cho rằng các bạn nầy không biết trân trọng và mang ơn người khác khi được giúp đỡ hay bênh vực ở nhà trường hoặc bên ngoài xã hội. Là phụ huynh, các chuyên gia nói, chúng ta có thể dạy các con cách tỏ lòng biết ơn người khác. Ví dụ, vào ngày sinh nhật của bạn học hay của bà con hàng xóm, hãy giúp con chọn lựa một tấm thiệp hoặc một món quà có ý nghĩa và gởi tặng, cho dù con không được họ mời tham gia. Hoặc, dặn con hãy để dành những phần bánh kẹo ngon và chờ khi có cơ hội thì đem chia sẻ cùng bạn bè trong lớp với sự đồng ý của giáo viên. Hoặc, khi đi xa trong các dịp nghỉ lễ, nghỉ hè thì hãy dạy con email, gởi thiệp, gởi hình, nhắn nhủ vài lời thăm hỏi dễ thương, thành thật trên Facebook. Và, mỗi khi con đọc một cuốn sách hay thì phụ huynh nên nhắc con cho bạn mượn, hay nên dạy con mở cửa đón phụ huynh và các bạn, cho quá giang nếu họ không có xe hơi và phải đi bộ trên đường đến trường hoặc về nhà, v.v…

2) Phát triển sở thích của con mình (follow our children’s interests)

Các chuyên gia khuyên phụ huynh nên tìm hiểu và phát hiện những mặt mạnh hay ưu điểm của con mình, chẳng hạn khả năng về hát, chơi đàn, vẽ tranh, nấu ăn, thú vui trồng cây, nuôi chim chóc, chơi cờ, chơi thể thao, tập võ, học bơi, học toán, học máy vi tính, chơi games lành mạnh, v.v… và tạo cơ hội cho con được kết bạn hay nhóm bạn với những những ai cùng sở thích. Ở trường con tôi, có một bé gái sử dụng iPad rất chuyên nghiệp, biết tải hình và cập mạng có bài tập giúp hiểu bài giảng của thầy cô khiến nhiều trẻ không bị tự kỷ phải thán phục và tìm cách gần gủi để học nghề. Con tôi thường về nhà và nhắc đến tên cô bé ấy như một thần tượng vì chính nó may mắn được kết nạp vào hội chơi iPad, và nhờ vậy, nó bắt đầu biết tra cứu tự điển và tìm những công thức toán trên mạng để tự làm bài tập ở nhà mà không cần vợ chồng tôi chỉ dẫn.

3) Giúp con có cơ hội giao tiếp với những trẻ cùng lứa tuổi (same – age peers), không bị khuyết tật (non – disabled or typical peers) ở nhà trường và sau giờ học

Con em bị rối loạn phổ tự kỷ thường trưởng thành muộn màng hơn, chừng 2/3 tuổi thật, về mặt cảm xúc và khả năng giao tiếp xã hội so với những đứa trẻ bình thường. Một đứa trẻ tự kỷ 12 tuổi thì lối suy nghĩ và hành vi lắm lúc như đứa trẻ 8 tuổi. Một thanh niên tự kỷ 18 tuổi thì sở thích và hoạt động cũng ước chừng vào độ tuổi 12. Vì vậy, phụ huynh chẳng ai lấy làm ngạc nhiên khi các bạn ấy ứng xử rất trẻ (young), chỉ thích gần gũi và thân thiện với những em nhỏ tuổi hơn mình. Ngoài ra, các chuyên gia khuyến cáo phụ huynh nên theo dõi vấn đề kết bạn của con em, bởi vì lắm lúc phụ huynh cần phải can thiệp vào chuyên riêng tư để con em mình có mối quan hệ xã hội đúng đắn và lành mạnh hơn. Có câu chuyện như thế nầy: Một thiếu niên tự kỷ sắp tốt nghiệp trung học, vì không thể kết bạn với các học sinh cùng độ tuổi, bèn lai vãng ở các trường tiểu học để làm quen với các em gái lớp 4, lớp 5. May mà phụ huynh cậu ấy biết được và nhờ các chuyên gia tâm lý giải thích cho cậu ấy hiểu rằng sự theo đuổi (stalking) trẻ nhỏ là điều phạm pháp, có thể khiến cậu ấy ngồi tù chứ chẳng chơi! Còn một chuyện khác … Cô bé tuổi dậy thì, chớm yêu, quen và si tình một chàng trai qua mạng, muốn gặp gỡ thì bị cha mẹ khám phá và ngăn chặn kịp thời. Hóa ra, chàng trai ấy là một ông già có tên trong danh sách khuấy nhiễu tình dục của California và có cả số tuổi đời xấp xỉ bằng tuổi cô và cha mẹ cô gộp lại!

Ở Hoa Kỳ, hiện tại các trường cấp 2 và cấp 3 đều có những nhóm học sinh tham gia vào các hội đoàn thể thao hay các nhóm cùng sở thích về học tập, âm nhạc, võ thuật. Đó là những cánh cửa cơ hội cho con em tự kỷ được gần gũi, trao giồi kỹ năng nói/ngôn ngữ và giao tiếp xã hội. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh than phiền rằng con em họ sau khi vào hội đoàn thì bắt đầu kết thân với nhiều trẻ xấu tính, và có khi bắt chước cả những hành vi không thích hợp. Cho nên, khi nói về vấn đề kết bạn cho trẻ và học sinh tự kỷ, các chuyên gia tâm lý/giáo dục thường đề cập đến sự hòa nhập của các em với các bạn cùng độ tuổi và không bị khuyết tật bởi vì, đó chính là những người mẫu (models) có thể hướng dẫn, giúp đỡ con em tự kỷ phát triển về nói/ngôn ngữ, khả năng giao tiếp xã hội trong những môi trường tự nhiên; còn giả sử trong một hội đoàn hay một nhóm chỉ bao gồm các em tự kỷ thì thử hỏi, ai sẽ là người mẫu cho các em tự kỷ noi theo? Đúng là lắm khi học thầy không tầy học bạn.

4) Không đầu hàng trước những khó khăn trong đời sống sinh hoạt xã hội của con em mình (don’t give up on our children’s social life)

Phụ huynh chúng ta không bao giờ bỏ cuộc!

Ở Hoa kỳ hay ở Việt Nam thì cũng vậy thôi. Chẳng khác gì. Đau lòng mà nói, hầu hết các trường học ở bên nầy hay bên kia đều không thật tâm hay có chủ đích hỗ trợ con em tự kỷ, nhất là đối với con em đang ở tuổi dậy thì và trưởng thành. Sự thật là, cho dù con em mình sinh hoạt cô lập, không có bạn bè, nhưng nếu các em không biểu hiện những hành vi nguy hiểm cho mình và cho người khác thì cũng chẳng ai buồn quan tâm. Chỉ có những thành phần học sinh gây rối “trouble makers” mới bị chiếu cố và “chăm sóc” đặc biệt bởi các giáo viên, chuyên viên ở nhà trường. Còn nữa, sau bậc trung học và khi con em bắt đầu vào chặng tuổi trưởng thành thì xã hội lại càng lánh xa, cô lập và khống chế con em mình nhiều hơn. Vì vậy, là phụ huynh, điều cần thiết là phải tạo cơ hội hòa nhập và giao tiếp xã hội cho con em mình. Không có gì gọi là muộn màng cả (it is never too late!). Con em mình không thể, không đáng phải mang nặng cái cùm hay bản án phải sống cô đơn và bị cô lập suốt cả cuộc đời (no one is sentenced to a life of isolation). Tương lai của các em bao giờ cũng sẽ tốt đẹp hơn so với những tháng ngày hôm qua và hôm nay.

5) Phải nhắc nhở và giúp con em ý thức vươn dậy trong mọi tình huống (remind and help our children about responsibility to step up in any circumstances)

Đến một lúc nào đó trong đời sống, con em tự kỷ phải tự lo và biết trách nhiệm đối với bản thân mình. Điều nầy không có nghĩa phụ huynh sẽ lạnh lùng cắt dây nối ruột để con em chết chìm giữa biển cả mênh mông. Thật ra, vấn đề tự lập hay mưu sinh để tồn tại trong xã hội không liên quan gì đến khả năng trí tuệ (cognitive levels), bởi vì mọi thứ đều lệ thuộc vào động cơ (motivation) hay sức mạnh sinh tồn của con em chúng ta. Một thanh thiếu niên bị tự kỷ nhưng biết cố gắng vươn lên thì đương nhiên sẽ đạt được nhiều mục đích và sống có ý nghĩa hơn so với những thanh thiếu niên lúc nào cũng chống đối và cự tuyệt đối với sự thích nghi trong môi trường sinh hoạt và học tập. Có 3 câu chuyện như thế nầy:

• Câu chuyện thứ nhất: Một em học sinh lớp 11, bị hội chứng tự kỷ Asperger, đàn và hát rất hay. Mỗi lần có những show diễn ở trường, em được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt. Vậy mà, em ấy vẫn cô đơn, không thể kết bạn. May có người chị học khoa tâm lý xã hội giải thích cho cô em hiểu rằng muốn có bạn, em ấy đừng chơi búp bế, đừng xem và nói về những cuốn phim hoạt họa (kiddie cartoons), nên cho hết, quẳng hết những áo quần trẻ con với những hình ảnh nhảm nhí, và phải bắt đầu đọc tạp chí, nghe nhạc pop, xem những đài TV, phim ảnh tân thời, hợp với độ tuổi và lành mạnh thì mới mong được hòa nhập và kiếm bạn trai tốt ở trường. Với quyết tâm thay đổi, em ấy bắt đầu cách ăn mặc kín đáo, gọn gàng, nói năng lịch sự, rồi chẳng bao lâu, em ấy làm bạn với cả những chàng trai chơi bóng rỗ, bóng tròn khét tiếng ở học khu, và dần dần, được mời góp mặt trong nhiều show diễn hơn ở các trường đại học.

• Câu chuyện thứ 2: Một sinh viên bị tự kỷ, vừa mới ra trường đi xin việc làm thì bị nhiều hãng điện tử chê không mướn, mặc dù cậu ấy rất có khiếu chẩn đoán, viết các chương trình điện toán cho các trò chơi trên mạng Apple. Cũng may, cậu ấy có người mẹ hiểu và thương con, một mực cậy nhờ các chuyên gia tâm lý, giáo dục ở trường giúp đỡ. Một chuyên gia nói với cậu ấy rằng nếu là giám đốc bà ta cũng không thể thuê mướn cậu, cho dù cậu có tài, hiền lành đến bao nhiêu đi chăng nữa. Lý do là cậu quá vô trách nhiệm với chính mình, không chịu cạo râu, vệ sinh thân thể, áo quần thì xốc xếch, mặc cả tuần bốc mùi nồng nặc mà chẳng chịu thay. Thế là cậu ấy hiểu. Từ đó, mỗi ngày cậu ấy biết thay đổi y phục, tắm rửa, chăm sóc bề ngoài rất cẩn thận. Kết quả, chỉ trong vòng 1 tháng cậu ấy được tuyển chọn vào làm việc cho Intel, một hãng điện tử rất lớn ở Mỹ, với số lương hàng tháng cao gấp nhiều lần so với những công nhân làm việc lao động chân tay, nhưng không bị tự kỷ trong cùng chi nhánh của hãng.

• Câu chuyện thứ 3: Một giám đốc trung tâm chẩn đoán và trị liệu tự kỷ đồng ý thuê mướn cậu học sinh trung học, đứa con trai của mình, với điều kiện cậu ấy phải nói năng lễ độ, biết cách chào đón và hướng dẫn phụ huynh có con em khuyết tật ở ngoài phòng đợi. Quá hứng thú, cậu ấy bắt đầu chịu học hỏi cách giao tiếp, sốt sắng và tận tụy với công việc của mình khiến ai nấy cũng lấy làm ngạc nhiên trước sự thay đổi tích cực về khả năng giao tiếp xã hội của cậu ấy.

Từ những mẩu chuyện trên, các chuyên gia nói, nếu phụ huynh biết cách tạo nên những lý do khích lệ hoặc khơi dậy động lực (motivating reasons) cho con em tự kỷ thì về sau, các em càng có ý thức tự lập và càng có nhiều cơ hội hòa nhập thành công hơn.

Bài Tom H. (phụ huynh)

Q. Cam, California - Thứ sáu ngày 28 tháng 8 năm 2015

Đón đọc phần 3 và 4 …

• Dạy Con Tự Kỷ Tuổi dậy Thì về Tình Dục.
• Dạy Con Tự Kỷ Tuổi Dậy Thì về Sự Bắt Nạt, Ức Hiếp, và áp Lực của bạn bè ở Nhà Trường.

Cảm ơn các bạn xa gần của tui.

Bình luận

Tin tức mới Xem tất cả