KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ

    29/09/2015

Trong suốt chiều dài lịch sử của Đạo Luật Giáo Dục Cá Nhân Khuyết Tật (IDEA 2004), nhiều thuật ngữ về khuyết tật trí tuệ (intellectual disability) đã không ngừng thay tên gọi, nhưng những tiêu chuẩn thẩm định và xếp trẻ hay học sinh vào dạng khuyết tật nầy hoàn toàn không có sự đổi mới.

Ngày nay, luật pháp và nhiều diễn đàn khuyết tật đã không còn sử dụng những cụm từ lỗi thời để ám chỉ một cá nhân bị khuyết tật trí tuệ, chẳng hạn như mentally retarded, mentally handicapped, mentally impaired, cognitive impaired v.v…

Đạo Luật Rosa (Rosa’s Law or Public Law 111-256) được Tổng Thống Obama ký vào ngày 5 tháng 10 năm 2010. Từ đó, người ta bắt đầu thay thế cụm từ chậm trí (mental retardation) bằng cụm từ khuyết tật trí tuệ (intellectual disability) trong các đạo luật liên bang về y tế, giáo dục và lao động để nói lên sự tôn trọng và bình đẳng giữa người và người.

Trong tiếng Anh, người ta thường dùng cụm từ "double whammy" hay "comorbidity" để ám chỉ trẻ vừa bị tự kỷ, vừa bị khuyết tật trí tuệ, hay trẻ vừa bị khuyết tật trí tuệ và hội chứng Down.

Khuyết tật về trí tuệ là sự giới hạn về khả năng nhận thức, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kỹ năng sinh hoạt hằng ngày (daily living skills), khả năng thích ứng với môi trường (adaptation to the environment) và nhiều khả năng khác như sinh hoạt xã hội, dùng ngôn ngữ giao tiếp, về học tập, tự giúp, sức khỏe và an toàn, giải trí, và làm việc…

Hiện tại, tiêu chuẩn về khuyết tật trí tuệ được ấn định bởi Hiệp Hội Người Hoa Kỳ Bị Khuyết Tật Trí Tuệ và Chậm Phát Triển (the American Association of Intellectual and Developmental Disabilities), tên gọi trước đây là Hiệp Hội Người Hoa Kỳ Bị Chậm Trí (the American Association for Mental Retardation).

Ở Hoa kỳ, mỗi tiểu bang đều có những chủ trương và phương cách chẩn đoán khác nhau về khuyết tật trí tuệ. Để hội đủ điều kiện khuyết tật ở dạng nầy, trẻ phải có điểm số thông minh (IQ scores) dưới mức bình thường nào đó và phải có bằng chứng bị khiếm khuyết về khả năng hay hiệu năng thích ứng (adaptive functioning deficits) với đời sống. Tuy nhiên, trẻ hội đủ điều kiện khuyết tật về trí tuệ không có nghĩa là trẻ sẽ được dịch vụ hỗ trợ nếu điểm số hay khả năng về học tập (academic skills) không nằm trong một mức độ được ấn định nào đó.

Điểm Số Thông Minh và Mức Độ Khuyết Tật về Trí Tuệ

Điểm số thông minh / Mức độ khuyết tật trí tuệ 
50/55 đến 70 điểm = Nhẹ (mild) 
35/40 đến 50/55 điểm = Hơi nặng (moderate) 
20/25 đến 35/40 điểm = Nặng (severe) 
Dưới 20/25 điểm = Nghiêm trọng (profound)

Nói về trắc nghiệm trí tuệ, người ta thường tính mức trung bình là 100 điểm và 1 số lệch (standard deviation) là 15 điểm.

• Chừng 2% dân số có kết quả trắc nghiệm trí thông minh dưới 70 điểm, và chừng 68% dân số có từ 85 đến 115 điểm. Điểm số thông minh được dùng làm thang bậc hay phân định mức độ khuyết tật về trí tuệ với điểm thấp nhất là từ 20 đến 70, có thể cộng hoặc trừ 5 điểm vì sai lệch trong sự đo lường (plus or minus 5 points of measurement error).

• Chừng 85% hay 85 trong 100 người bị khuyết tật về trí tuệ có điểm số thông minh từ 50/55 đến 70 điểm và được xếp vào dạng nhẹ (mild).

• Chừng 10% hay 10 trong 100 người bị khuyết tật trí tuệ có điểm số thông minh từ 35/40 đến 50/55 điểm và được xếp vào dạng hơi nặng (moderate).

• Chừng 3-4% hay 3-4 trong 100 người bị khuyết tật về trí tuệ có điểm số thông minh từ 20/25 đến 35/40 điểm và được xếp vào dạng nặng (severe).

• Chừng 1-2 % hay 1-2 trong 100 người bị khuyết tật về trí tuệ có điểm số thông minh từ 20-25 điểm trở xuống và thuộc dạng nghiêm trọng (profound).

Thông thường, quá trình chẩn đoán khuyết tật về trí tuệ đòi hỏi phải có những bài trắc nghiệm được tiêu chuẩn hóa (standardized IQ assessments) và những bài trắc nghiệm có thang bậc để đo lường mức độ hay khả năng thích ứng với đời sống, chẳng hạn the Vineland Adaptive Behavior Scales và the Inventory for Client and Agency Planning. Đây là những bài trắc nghiệm rất phổ biến, được áp dụng để chẩn đoán hoặc đo lường khả năng di động (motor skill), khả năng sinh hoạt cá nhân (personal living skill), sinh hoạt hằng ngày (everyday living skill), sinh hoạt trong cộng đồng (community living skill), khả năng độc lập, và những hành vi thích hợp trong giao tiếp xã hội.

Hiệp Hội Người Hoa Kỳ Bị Khuyết Tật về Trí Tuệ và Chậm Phát Triển qui định rằng một cá nhân bị khuyết tật về trí tuệ phải có điểm số thông minh chừng 70 điểm hay thấp hơn. Tuy nhiên, vì sự sai lệch trong sự đo lường của các bài trắc nghiệm trí tuệ (the standard error of measurement) thường là 5 điểm, mức trần chẩn đoán (diagnosis ceiling) có thể nâng lên đến 75 điểm.

Ở trường học, nhóm soạn thảo IEP căn cứ vào mức độ nhẹ, hơi nặng, nặng, và nghiêm trọng của khuyết tật về trí tuệ để cung cấp chương trình giáo dục đặc biệt và những dịch vụ liên hệ (related services) như sau:

• Trẻ hay học sinh khuyết tật về trí tuệ ở dạng nhẹ (mild) thường được cung cấp chương trình giảng dạy bao gồm sự giáo dục về sinh hoạt trong đời sống.

• Trẻ hay học sinh khuyết tật về trí tuệ ở dạng hơi nặng (moderate) thường được cung cấp chương trình giáo dục có sự giới hạn về học tập, chủ yếu là đặt nặng vấn đề sinh hoạt và thích nghi trong đời sống.

• Trẻ hay học sinh khuyết tật về trí tuệ thuộc dạng nặng (severe) hay nghiêm trọng (profound) thường ít được cung cấp chương trình giảng dạy về văn hóa, chỉ được giáo dục về mặt sinh hoạt và thích nghi.

Khuynh hướng dựa vào điểm số thông minh (IQ scores) để xếp trẻ và học sinh vào mức độ khuyết tật nặng, nhẹ về trí tuệ của nhà trường có những khuyết điểm lớn vì những lý do sau đây:

• Những bài trắc nghiệm về tâm lý thường thiếu sự chính xác, mang nặng tính phân biệt giai cấp và chủng tộc.

• Kết quả của những bài trắc nghiệm bị ảnh hưởng rất nhiều bởi khả năng ngôn ngữ, sự chú tâm, cũng như kinh nghiệm học tập đã được giảng dạy (academic instruction), nhất là kinh nghiệm trong đời sống (life experience).

• Trẻ và học sinh khuyết tật có thể đạt điểm thông minh thấp vì nhiều lý do khác, chứ chưa hẳn vì khả năng trí tuệ thật sự bị hạn chế.

• Quyết định của nhà trường trong vấn đề cung cấp chương trình giáo dục chung chung (generic), dựa vào mức độ trí tuệ bị khiếm khuyết nặng hay nhẹ, sẽ tạo nên sự chậm phát triển ngày mỗi nhiều hơn cho trẻ và học sinh khuyết tật ở trường.

• Hầu hết các học khu đều có khuynh hướng đưa trẻ và học sinh bị khuyết tật trí tuệ vào các lớp học bị cách ly nghiêm trọng (substantially separate classroom), không muốn các em có cơ hội hòa nhập vào các lớp học thường (regular classroom), chỉ cho phép các em hội nhập vào những hoạt động không có văn hóa hay ngoại khóa (nonacademic activities) như chơi chung trong giờ nghỉ (recess), ăn trưa chung (lunch), sinh hoạt chung trong giờ thể dục (gym) với những trẻ không bị khuyết tật khác (nondisabled peers) Điều nầy có thể xem là sự vi phạm nghiêm trọng những qui định của IDEA 2004 và Đoạn 504 về môi trường giáo dục ít bị hạn chế nhất (the least restrictive environment) dành cho trẻ và học sinh khuyết tật ở nhà trường.

• Sự chẩn đoán và gán mác khuyết tật trí tuệ cho trẻ còn quá nhỏ, trong khi các em đang ở vào giai đoạn phát triển thể xác và trí thông minh, để nhồi nhét trẻ vào những môi trường bị hạn chế nhiều nhất (the most restrictive environment) với những chương trình giáo dục không thích hợp ở nhà trường là một điều hết sức nguy hiểm và bất lợi cho tương lai về sau của trẻ và học sinh khuyết tật. Vì lẽ đó, Quốc Hội Hoa Kỳ đã cho phép các tiểu bang tùy nghi ứng dụng dạng chậm phát triển (developmental delay category) cho trẻ khuyết tật từ 3 đến 5 tuổi, hoặc đến 9 tuổi, nhằm ngăn chận tình trạng chẩn đoán khuyết tật về trí tuệ quá sớm cho trẻ con một cách bừa bãi và vô trách nhiệm của những chuyên gia tâm lý/giáo dục ở nhà trường.

Phụ huynh nên chú ý những vấn đề liên quan đến sự chẩn đoán khuyết tật về trí tuệ cho con em ở nhà trường như sau:

- Phụ huynh phải biết con em mình có đủ tuổi về trí khôn để làm những bài trắc nghiệm về tâm lý do nhà trường đề nghị hay không?

- Khi có sự cách biệt (discrepancies) giữa các điểm số thông minh thì không nên chấp nhận điểm số thông minh toàn diện (a full scale IQ scores) do chuyên viên tâm lý nhà trường đưa ra. Lý do là điểm số nầy bị chênh lệch và không đáng tin cậy, dễ tạo ấn tượng sai lầm cho phụ huynh và giáo viên về khả năng thực sự của trẻ.

- Phụ huynh phải tìm hiểu hoặc nên có sự chỉ dẫn của các chuyên viên tâm lý/giáo dục độc lập để biết những bài trắc nghiệm tâm lý nào là thích hợp hay không thích hợp cho con em mình. Phải hiểu rằng không phải bất cứ một bài trắc nghiệm tâm lý nào do nhà trường đề nghị đều có thể phản ánh chính xác mức độ khuyết tật về trí tuệ của con em mình.

- Trong những trường hợp không thể chẩn đoán hay đo lường trẻ một cách chính xác bằng những bài trắc nghiệm chuẩn, phụ huynh nên đề nghị nhà trường dùng những phương cách hay những bài trắc nghiệm không tiêu chuẩn hóa khác (non-standardized means of assessing) để tránh sự gán ép những điểm số thông minh lệch lạc, gây ảnh hưởng tiêu cực cho con đường học vấn của trẻ sau nầy.

- Sự kỳ vọng của giáo viên và phụ huynh thường có ảnh hưởng tích cực đến thành quả học tập của trẻ khuyết tật. Bất cứ trẻ khuyết tật về trí tuệ nào cũng có sở thích (interests) và năng khiếu (skills and aptitudes). Vì vậy, quyết định về môi trường ít bị hạn chế nhất và chương trình giảng dạy của nhà trường dành cho trẻ hay học sinh khuyết tật về trí tuệ phải dựa vào nhu cầu cá biệt (unique needs), chứ không thể phó mặc nhà trường dùng điểm số thông minh qua những bài trắc nghiệm để đóng khung số phận con em mình.

Vụ Kiện tập Thể Larry P. v. Wilson Riles (1979)

Đây là một vụ kiện tập thể của một số phụ huynh người Mỹ Da Đen hay gốc Châu Phi (Black or African American) đối với học khu ở San Francisco và Bộ Giáo Dục ở California. Trong vụ kiện nầy, phụ huynh cho rằng nhà trường đã áp dụng những bài trắc nghiệm tâm lý có tính phân biệt chủng tộc để xếp con em họ vào các lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được”, và điều nầy đã vi phạm điều khoản bình đẳng trong Tu Chính Án thứ 14 của Hiến Pháp Hoa Kỳ (the Equal Protection Clause of the 14th Amendment of the U.S. Constitution).

Larry P. là một học sinh Mỹ Da Đen có nhiều khó khăn về mặt học tập. 
Theo chính sách của học khu thời bấy giờ, các chuyên viên tâm lý của nhà trường có thể dùng những bài trắc nghiệm để đo lường hay tìm kiếm nguyên nhân gây nên khiếm khuyết về học tập của học sinh. Nhưng qua kết quả của bài trắc nghiệm tâm lý (Stanford Binet Intelligent Test), nhà trường khẳng định Larry bị chậm trí hay khuyết tật trí tuệ ở dạng nhẹ (mild), và xếp Larry vào lớp học dành riêng cho học sinh “chậm trí nhưng giáo dục được” (Educably Mentally Retarded or EMR).

Dạng “chậm trí nhưng giáo dục được” không nằm trong qui định của chính phủ liên bang, chỉ là chủ trương hay chính sách độc đoán, phân biệt chủng tộc của riêng các học khu dưới sự quản trị của ông Wilson Riles ở thành phố San Francisco.

Vào thập niên 70, sự xếp lớp “chậm trí nhưng giáo dục được” cho học sinh khuyết tật bắt đầu từ sự giới thiệu (referral) của các giáo viên lớp thường (general classroom teacher), và tiếp theo là đề nghị thẩm định (assessment and recommendation) của chuyên viên tâm lý (school psychologist) đối với trẻ nghi ngờ bị khuyết tật thuộc dạng nầy ở nhà trường.

Thời Larry P., những lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được” chỉ dạy học sinh khuyết tật những kỹ năng sinh hoạt xã hội, chứ không chú trọng giáo dục học sinh các môn học chính như toán, đọc, viết. So với các học sinh không bị khuyết tật khác, đây là sự thiệt thoài vô cùng to lớn cho học sinh Mỹ Da Đen hay gốc Châu Phi, kể cả học sinh nói tiếng Tây Ban Nha/Châu Mỹ Latin (Hispanic/Latino), bởi vì hai sắc dân/chủng tộc nầy chiếm tỷ lệ cao nhất trong các lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được” ở California.

Những câu hỏi đặt ra trong vụ kiện tập thể Larry P. v. Wilson Riles

• Ở California, liệu nhà trường áp dụng những bài trắc nghiệm được tiêu chuẩn hóa (standardized IQ tests) có đúng với mục đích chẩn đoán về mặt chậm trí cho học sinh khuyết tật người Mỹ Da Đen một cách công bằng và hợp lý hay không?

• Có phải nhiều học sinh người Mỹ Da Đen bị gán mác “chậm trí” một cách sai lệch và cố ý qua các bài trắc nghiệm tâm lý ở các học khu thuộc thành phố San Francisco hay không?

• Nếu sự sắp xếp lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được”cho học sinh người Mỹ Da Đen là không thích hợp và có tính cách bôi nhọ (stigmatized) thì đó có phải là sự phân biệt chủng tộc?

• Sự áp dụng những bài trắc nghiệm tâm lý nhằm sắp xếp học sinh người Mỹ Da Đen vào các lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được” có phải là sự vi phạm Tu Chính Án 14 về điều khoản bảo vệ sự bình đẳng hay không?

Lập trường của các phụ huynh trong vụ kiện tập thể Larry P. v. Riles
• Những bài trắc nghiệm tâm lý do nhà trường áp dụng để chẩn đoán sự chậm trí thường thiên vị học sinh người Mỹ Da Trắng (White), có định kiến (biased), bôi nhọ, không thích hợp đối với người Mỹ Da Đen và hoàn toàn vi phạm luật pháp.

• Sự áp dụng những bài trắc nghiệm tâm lý của học khu nhằm vào việc sắp xếp lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được” là sự phân biệt chủng tộc nghiêm trọng đối với học sinh người Mỹ Da Đen hay Mỹ gốc Châu Phi.

• Nhà trường vi phạm những điều khoản về sự chẩn đoán khuyết tật không phân biệt chủng tộc trong Đạo Luật Giáo Dục cho Tất Cả Học Sinh Khuyết Tật (Education for All Handicapped Children Act or EAHCA).

• Nhà trường vi phạm Đạo Luật về Dân Quyền (1964) và Phục Hồi (1973).

• Chương trình giảng dạy trong các lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được” không có chủ đích giúp đỡ học sinh người Mỹ Da Đen đạt được những kỹ năng cần thiết để hội nhập vào những lớp học thường cùng với các học sinh không bị khuyết tật khác.

• Những lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được” là ngõ cụt, không lối thoát (dead end) và bôi nhọ (stigmatized) học sinh Mỹ Da Đen đang theo học ở các trường trong những học khu do ông Wilson Riles quản lý.

Biện luận của học khu và Bộ Giáo Dục California trong vụ kiện Larry P. v. Riles

• Luật pháp cho phép nhà truờng áp dụng những bài trắc nghiệm tâm lý để xếp lớp cho học sinh chậm trí.

• Sự áp dụng những bài trắc nghiệm tâm lý để chẩn đoán và xếp lớp thường được công nhận và áp dụng rộng rãi ở nhiều học khu thuộc tiểu bang California.

• Học sinh người Mỹ Da Đen chiếm tỷ lệ cao nhất trong các lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được” là vì,

1) Những yếu tố di truyền (genetic factors).
2) Những yếu tố thuộc về môi trường và xã hội khác (societal/environment factors).

Tòa án liên bang phán quyết: Nhóm phụ huynh người Mỹ Da Đen thắng kiện và ra lệnh -

• Tất cả học khu ở California không được áp dụng những bài trắc nghiệm tâm lý để nhận dạng khuyết tật và xếp lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được” cho học sinh người Mỹ Da Đen.

• Không chấp nhận biện luận của học khu về yếu tố di truyền và yếu tố môi trường/xã hội là nguyên nhân gây nên khuyết tật về trí tuệ cho học sinh người Mỹ Da Đen.

• Các học khu phải theo dõi và giải quyết vấn đề nhồi nhét quá nhiều học sinh người Mỹ Da Đen vào các lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được”.

• Tất cả học sinh người Mỹ Da Đen trong các lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được” phải được thẩm định lại (re-assessed).

• Học khu cần phải nghiêm chỉnh chấp hành những qui định của EAHCA về điều khoản chẩn đoán khuyết tật dựa trên căn bản không phân biệt chủng tộc, và phải công bằng đối với trẻ/học sinh bị khuyết tật.

Từ sau vụ kiện tập thể Larry P.v. Riles cho đến ngày hôm nay, tất cả học khu ở California tuyệt đối không được quyền xử dụng những bài trắc nghiệm tâm lý như là phương tiện để chẩn đoán khuyết tật trí tuệ và xếp lớp đặc biệt cho học sinh người Mỹ Da Đen hay người Mỹ gốc Châu Phi.

Vụ Kiện Tập Thể Diane v. State Board of Education (1970)

Diane là một học sinh nói tiếng Tây Ban Nha/Châu Mỹ La Tinh (Hispanic/Latino) thuộc học khu Soledad ở California. Diane gặp nhiều khó khăn về học tập và có sự chẩn đoán bị chậm trí dạng nhẹ. Nhà trường xếp Diane vào lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được”.

Phụ huynh của Diane cùng với 8 phụ huynh của các em học sinh nói tiếng Tây Ban Nha/Châu Mỹ La Tinh, tuổi từ 8 đến 13, quyết định khởi kiện học khu Soledad và Bộ Giáo Dục ở California, cho rằng nhà trường đã ứng dụng những bài trắc nghiệm tâm lý bằng tiếng Anh để xếp đặt con em họ vào những lớp học dành cho học sinh “chậm trí nhưng giáo dục được” là không công bằng và hợp lý.

Vấn đề tranh chấp (issues)

• Có phải học sinh nói tiếng Tây Ban Nha/Châu Mỹ La Tinh bị gán mác “chậm trí” bằng những bài trắc nghiệm tâm lý bằng tiếng Anh là không công bằng và hợp lý?

• Nếu điều trên là đúng, có phải sự xếp lớp “chậm trí nhưng giáo dục được” cho nhóm học sinh nầy là sự kỳ thị chủng tộc và vi phạm Điều Khoản Bổ Xung 14 của Hiến Pháp Hoa Kỳ về vấn đề bảo vệ quyền lợi và sự bình đẳng của học sinh bị khuyết tật ở nhà trường hay không?

Lập luận của phụ huynh -

• Con em họ không thể nào hiểu được những câu hỏi bằng tiếng Anh trong những bài trắc nghiệm tâm lý. Vì vậy, điểm số thông minh do nhà trường thẩm định là hoàn toàn không đáng tin cậy (incredible).

Biện luận của học khu

• Luật cho phép nhà trường áp dụng những bài trắc nghiệm tâm lý nhằm mục đích xếp lớp cho học sinh chậm trí.

• Học khu Soledad không vi phạm điều khoản về sự bảo vệ quyền lợi và bình đẳng qui định trong Điều Khoản Bổ Xung 14 của Hiến Pháp Hoa Kỳ, bởi vì tất cả học sinh chậm trí đều phải được trắc nghiệm khả năng trí tuệ ở trường.

Bằng chứng rõ rệt từ phía phụ huynh -

• Học sinh nói tiếng Tây ban Nha/Châu Mỹ La Tinh không hiểu được những bài trắc nghiệm bằng tiếng Anh.

• Khi được trắc nghiệm bằng tiếng Tây Ban Nha, điểm số thông minh của nhiều em tăng hơn 15 điểm (15 điểm là một số lệch - 1 standard deviation) so với kết quả bằng tiếng Anh.

Phán quyết của tòa (Court’s order):

• Học sinh có ngôn ngữ khác với tiếng Anh phải được trắc nghiệm tâm lý bằng tiếng mẹ đẻ của các em.

• Học sinh nói tiếng Tây Ban Nha/Châu Mỹ Latin trong các lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được” cần phải được thẩm định lại.

• Các học khu ở California phải đề xuất những phương án để giúp đỡ học sinh trong các lớp học “chậm trí nhưng giáo dục được” để các em có cơ hội được hòa nhập vào các lớp học thường (regular classrooms).

• Các học khu ở California phải giải thích vì sao học sinh nói tiếng Tây Ban Nha/Châu Mỹ La Tinh có số lượng và tỷ lệ phần trăm quá cao trong các lớp học đặc biệt.

• Các học khu ở California phải xem xét lại cách thức chẩn đoán khuyết tật trí tuệ và nên đặt trọng tâm vào những nhu cầu cá biệt (unique needs) của học sinh có xuất xứ từ các nguồn văn hóa khác.

Từ sau vụ kiện Diane v. State Board of Education, nhiều bài trắc nghiệm tâm lý và giáo dục bằng tiếng Tây Ban Nha được áp dụng ở nhà trường để tránh kỳ thị và bị kiện tụng bởi phụ huynh. Ngoài ra, luật qui định rõ rằng điểm trắc nghiệm để xếp lớp cho học sinh bị khuyết tật về trí tuệ phải được xác minh bằng sự đánh giá về tiến trình phát triển, bối cảnh văn hóa (cultural background) và thành quả học tập của học sinh khuyết tật ở trường.

                                                             Danang Ho & Tom H.

Bình luận

Tin tức mới Xem tất cả